(¯`·.º-:¦:KìnhThiênHội:¦:-º.·´¯)

Vietnam People's willing to sacrifice to protect the sea, sky and country !  
Indexhttp://kinhthieCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
Asami
»ღ« Ngọc Bút Ngự Sử »ღ«


Nữ Tổng số bài gửi : 1367
Age : 22
Đến từ : Kình Thiên Hội
Job/hobbies : Ngự Sử
Registration date : 07/03/2009

Lengend
Legend:
500/900  (500/900)

Bài gửiTiêu đề: Re: [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]   Sun Jun 14, 2009 10:38 am

Phải chi hỏi đặng Nam Tào,
Đêm nay cho đến đêm nào gặp nhau ?"
Nguyệt Nga gượng giải cơn sầu,
Xảy nghe lạc ngựa ở đâu tới nhà.
Kêu rằng: "Ai ở trong nhà,
Đường về quan ải chỉ ra cho cùng".
Nguyệt Nga ngồi sợ hãi hùng,
Vân Tiên xuống ngựa thẳng xông bước vào.
Lão bà lật đật hỏi chào :
"ở đâu mà tới rừng cao một mình ?"
Vân Tiên mới nói sự tình :
"Tôi là quốc trạng trào đình sai ra.
Đem binh dẹp giặc Ô Qua,
Lạc đường đến hỏi thăm nhà bà đây".
Lão bà nghe nói sợ thay :
"Xin ông chớ chấp tôi nay mụ già ".
Vân Tiên ngồi ngắm Nguyệt Nga,
Lại xem bức tượng lòng đà sinh nghi.
Hỏi rằng: "Bức ấy tượng chi,
Khen ai khéo vẽ dung nghi giống mình.
Đầu đuôi chưa rõ sự tình,
Lão bà khá nói tánh danh cho tường ".
Lão bà chẳng dám lời gian :
"Tượng này vốn thiệt chồng nàng ngồi đây".
Tiên rằng : "Nàng xách lại đây,
Nói trong tên họ tượng này ta nghe".
Nguyệt Nga lòng rất kiêng dè,
Mặt thời giống mặt, còn e lạ người.
Ngồi che tay áo hổ ngươi,
Vân Tiên thấy vậy mỉm cười một khi.
Rằng : "Sao nàng chẳng nói đi,
Hay là ta hỏi động chi chăng là ?"
Nguyệt Nga khép nép thưa qua :
"Người trong bức tượng tên là Vân Tiên.
Chàng đàng về chốn cửu tuyền,
Thiếp lăm trọn đạo, lánh miền gió trăng".
Vân Tiên nghe nói hỏi phăn :
"Chồng là tên ấy vợ rằng tên chi ?"
Nàng bèn tỏ thiệt một khi,
Vân Tiên vội vã xuống quì vòng tay.
Thưa rằng : "May gặp nhau đây,
Xin đền ba lạy sẽ bày nguồn cơn.
Để lời thệ hải minh sơn, (309)
Mang ơn trước phải đền ơn cho rồi.
Vân Tiên vốn thiệt là tôi,
Gặp nhau nay đã phỉ rồi ước mơ".
Nguyệt Nga bảng lảng bơ lơ, (310)
Nửa tin rằng bạn, nửa ngờ rằng ai.
Thưa rằng : "Đã thiệt tên ngài,
Khúc nôi xin cứ đầu bài phân qua". (311)
Vân Tiên dẫn tích xưa ra,
Nguyệt Nga khi ấy khóc oà như mưa.
Ân tình càng kể càng ưa,
Mảng còn bịn rịn trời vừa sáng ngay.
Xa nghe quân ó vang dầy,
Bốn bề rừng bụi khắp bày can qua.
Vân Tiên lên ngựa trở ra,
Thấy cờ đề chữ hiệu là Hớn Minh.
Hớn Minh khi ấy dừng binh,
Anh em mừng rỡ tỏ tình cùng nhau.
Minh rằng : "Tẩu tẩu ở đâu, (312)
Cho em ra mắt chị dâu thế nào".
Vân Tiên đem Hớn Minh vào,
Nguyệt Nga đứng dậy miệng chào có duyên.
Minh rằng : "Tưởng chị ở Phiên,
Quyết đem binh mã sang miền Ô Qua.
May đâu sum hiệp một nhà,
Giặc đà an giặc khải ca hồi trào".
Tiên rằng : "Nàng tính thế nào ?"
Nàng rằng : "Anh hãy về trào tâu lên.
Ngỏ nhờ lượng cả bề trên,
Lịnh tha tội trước mới nên về nhà ".
Tiên, Minh trở ngựa đều ra,
Đem binh trở lại triều ca đề huề. (313)
Sở vương nghe trạng nguyên về,
Sai quan tiếp rước vào kề bên ngai.
Sở vương bước xuống kim ngai,
Tay bưng chén rượu thưởng tài trạng nguyên.
Phán rằng : "Trẫm sợ nước Phiên,
Có người Cốt Đột phép tiên lạ lùng.
Nay đà trừ Cốt Đột xong,
Thiệt trời sanh trạng giúp trong nước nhà.
Phải chi trước có trạng ra,
Làm chi nên nỗi Nguyệt Nga cống Hồ ".
Lệnh truyền mở yến triều đô,
Rày mừng trừ đặng giặc Ô Qua rồi.
Trạng nguyên quì tấu một hồi,
Nguyệt Nga các việc khúc nôi rõ ràng.
Sở vương nghe tấu ngỡ ngàng.
Phán rằng : "Trẫm tưởng rằng nàng ở Phiên
Chẳng ngờ nàng với trạng nguyên,
Cùng nhau trước có nhân duyên thuở đầu ".
Thái sư trước bệ quì tâu :
"Ô Qua dấy động qua mâu cũng vì, (314)

_________________

"One leaf is believe
Two leaf is hope
Three leaf is love
And four leaf is happiness
Then may a three leafed clover find it’s happiness in love?
Clover bốn lá
Tôi chỉ muốn có hạnh phúc
Hạnh phúc
không chia sẻ được”
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://asami-ntnt.blogspot.com/
Asami
»ღ« Ngọc Bút Ngự Sử »ღ«


Nữ Tổng số bài gửi : 1367
Age : 22
Đến từ : Kình Thiên Hội
Job/hobbies : Ngự Sử
Registration date : 07/03/2009

Lengend
Legend:
500/900  (500/900)

Bài gửiTiêu đề: Re: [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]   Sun Jun 14, 2009 10:38 am

Trá hôn oán ấy nên gây,
Nguyệt Nga nàng thiệt tội thì khi quân"
Trạng nguyên mặt đỏ phừng phừng,
Bèn đem bức tượng quì dâng làm bằng.
Sở vương xem tượng phán rằng :
"Nguyệt Nga trinh tiết ví bằng người xưa.
Thái sư trước chẳng lo lừa,
Thiếu chi dân thứ phải đưa tới nàng ?
Dầu cho nhựt nguyệt rõ ràng.
Không soi chậu úp cũng mang tiếng đời. (315)
Ngay gian sao cũng có trời,
Việc này vì trẫm nghe lời nên oan ".
Trạng nguyên tâu trước triều đàng :
"Thái sư trữ dưỡng tôi gian trong nhà.
Trịnh Hâm là đứa gian tà,
Hại tôi buổi trước cũng đà ghe phen ". (316)
Sở vương phán trước bệ tiền :
"Những ngờ tướng ngỏ tôi hiền mà thôi. (317)
Vậy cũng đạo chúa ngãi tôi,
Thái sư ý muốn cướp ngôi chín trùng. (318)
Hớn xưa có gã Đổng công, (319)
Nuôi thằng Lữ Bố cướp dòng họ Lưu.
Đời xưa tôi nịnh biết bao,
Thái sư nay có khác nào người xưa ?
Thấy người trung chánh chẳng ưa,
Rắp tâm kế độc lập lừa mưu sâu.
Trịnh Hâm tội đáng chém đầu,
ấy là mới hết người sau gian tà ".
Sở vương phán trước triều ca :
"Thái sư cách chức về nhà làm dân.
Trịnh Hâm là đứa bạo thần,
Giao cho quốc trạng xử phân pháp hình.
Nguyệt Nga là gái tiết trinh,
Sắc phong quận chúa hiển vinh rỡ ràng.
Kiều công xưa mắc tội oan,
Trẫm cho phục chức làm quan Đông Thành.
Trạng nguyên dẹp giặc đã bình,
Kiệu vàng tán bạc hiển vinh về nhà ".
Bãi chầu chư tướng trở ra,
Trạng nguyên mời hết đều qua dinh ngồi.
Họ Vương họ Hớn họ Bùi,
Cùng nhau uống rượu đều vui đều cười.
Trạng nguyên mới hỏi một lời :
"Trịnh Hâm tội ấy các người tính sao ?"
Truyền quân dẫn Trịnh Hâm vào,
Mặt nhìn khắp hết miệng chào các anh.
Minh rằng : "Ai mượn kêu anh,
Trước đà đem thói chẳng lành thời thôi.
Kéo ra chém quách cho rồi,
Để chi gai mắt đứng ngồi căm gan ".
Trực rằng : "Minh nóng nói ngang,
Giết ruồi ai dụng gươm vàng làm chi
Xưa nay mấy đứa vô nghì,
Dẫu cho có sống, làm gì nên thân ?"
Hâm rằng : "Nhờ lượng cố nhân,
Vốn em mới dại một lần xin dung ".
Trạng rằng : "Hễ đứng anh hùng,
Nào ai có giết đứa cùng làm chi.
Thôi thôi ta cũng rộng suy,
Truyền quân mở trói đuổi đi cho rồi ".
Trịnh Hâm khỏi giết rất vui,
Vội vàng cúi lạy chân lui ra về.
Còn người Bùi Kiệm máu dê,
Ngồi chai bề mặt như sề thịt trâu.
Hớn Minh - Tử Trực vào tâu,
Xin đưa quốc trạng kíp chầu vinh qui.
Một người Bùi Kiệm chẳng đi,
Trong lòng hổ thẹn cũng vì máu dê.
Trạng nguyên xe giá chỉnh tề,
Sai quân hộ vệ rước về Nguyệt Nga.
Bạc vàng đem tạ lão bà,
Nguyệt Nga từ tạ thẳng qua Đông Thành.
Võng điều gươm bạc lọng xanh,
Trạng nguyên Tử Trực Hớn Minh lên đàng,
Trịnh Hâm về tới Hàn Giang,
Sóng thần nổi dậy thuyền chàng chìm ngay.
Trịnh Hâm bị cá nuốt rày,
Thiệt trời báo ứng lẽ này rất ưng.

_________________

"One leaf is believe
Two leaf is hope
Three leaf is love
And four leaf is happiness
Then may a three leafed clover find it’s happiness in love?
Clover bốn lá
Tôi chỉ muốn có hạnh phúc
Hạnh phúc
không chia sẻ được”
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://asami-ntnt.blogspot.com/
Asami
»ღ« Ngọc Bút Ngự Sử »ღ«


Nữ Tổng số bài gửi : 1367
Age : 22
Đến từ : Kình Thiên Hội
Job/hobbies : Ngự Sử
Registration date : 07/03/2009

Lengend
Legend:
500/900  (500/900)

Bài gửiTiêu đề: Re: [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]   Sun Jun 14, 2009 10:39 am

Thấy vầy nên dửng dừng dưng, (320)
Làm người ai nấy thì đừng bất nhân.
Tiểu đồng trước giữ mộ phần,
Ngày qua tháng lại đã gần ba năm.
Của đi khuyên giáo mấy năm.
Tính đem hài cốt về thăm quê nhà.
Hiềm chưa thuê đặng người ta,
Còn đương thơ thẩn vào ra Đại Đề.
Trạng nguyên khi ấy đi về,
Truyền quân bày tiệc lo bề tế riêng :
"Tiểu đồng hồn bậu có thiêng,
Thoả tình thầy tớ lòng thiềng ngày nay".
Đọc văn nhớ tới chau mày,
Đôi hàng lụy ngọc tuôn ngay ròng ròng.
Người ngay trời phật động lòng,
Phút đâu ngó thấy tiểu đồng đến coi.
Trạng nguyên còn hãy sụt sùi,
Ngó lên bài vị lại xui lòng phiền. (321)
Tiểu đồng nhắm ngửa nhìn nghiêng :
"Ông này sao giống Vân Tiên cũng kì ?
Ông nào mất xuống âm ti,
Ông nào còn sống nay thì làm quan ?"
Trạng nguyên khi ấy hỏi chàng :
"Phải người đồng tử mắc màn chốn ni ?"
Mấy năm tớ mới gặp thầy,
Cùng nhau kể nỗi đắng cay từ ngằn (322)
Ai dè còn thấy bổn quan, (323)
Ba năm gìn giữ mồ hoang đã rồi .
Trạng nguyên khi ấy mừng vui,
Tớ thầy sum họp tại nơi Đại Đề.
Đoạn thôi xe giá ra về,
Tuần dư phút đã gần kề Hàn Giang. (324)
Võ công từ xuống suối vàng,
Thể Loan cùng mụ Quỳnh Trang đeo sầu.
Mẹ con những mảng lo âu ;
"Nghe Vân Tiên sống gặp chầu công danh.
Cùng ta xưa có ân tình,
Phải ra đón rước lộ trình hoạ may".
Loan rằng : "Mình ở chẳng hay,
E người còn nhớ những ngày trong hang".
Trang rằng : "Con có hồng nhan,
Cho chàng thấy mặt thời chàng ắt ưa.
Dầu chàng còn nhớ tích xưa,
Mẹ con ta lại đổ thừa Võ công".
Cùng nhau bàn luận đã xong,
Soi gương đánh phấn ra phòng rước duyên . (325)
Nay đà tới thứ trạng nguyên,
Hàn Giang đã tới bỗng liền đóng quân.
Bạc vàng châu báu áo quần,
Trạng nguyên đem tạ đáp ân ngư tiều.

_________________

"One leaf is believe
Two leaf is hope
Three leaf is love
And four leaf is happiness
Then may a three leafed clover find it’s happiness in love?
Clover bốn lá
Tôi chỉ muốn có hạnh phúc
Hạnh phúc
không chia sẻ được”
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://asami-ntnt.blogspot.com/
Asami
»ღ« Ngọc Bút Ngự Sử »ღ«


Nữ Tổng số bài gửi : 1367
Age : 22
Đến từ : Kình Thiên Hội
Job/hobbies : Ngự Sử
Registration date : 07/03/2009

Lengend
Legend:
500/900  (500/900)

Bài gửiTiêu đề: Re: [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]   Sun Jun 14, 2009 10:40 am

Ngư tiều nay đặng danh biêu, (326)
Ơn ra một buổi của nhiều trăm xe.
Trạng nguyên chưa kịp trở về,
Thấy Quỳnh Trang đã đứng kề trong quân.
Trang rằng : "Tưởng chữ hôn nhân,
Mẹ con tôi đến lễ mừng trạng nguyên.
Võ công đã xuống huỳnh tuyền,
Xin thương lấy chút thuyền quyên phận này".
Trạng rằng : "Bưng bát nước đầy,
Đổ ngay xuống đất hốt rày sao xong ?
Oan gia nợ ấy trả xong,
Thiếu chi nên nỗi mà mong tới đòi". (327)
Hớn Minh Tử Trực đứng coi,
Cười rằng : "Hoa khéo làm mồi trêu ong.
Khen cho lòng chẳng thẹn lòng,
Còn mang mặt đến đèo bòng nỗi chi ?
Ca ca sao chẳng chịu đi, (328)
Về cho tẩu tẩu, để khi xách giày ?"
Mẹ con đứng thẹn thùng thay,
Vội vàng cúi lạy, chân rày trở ra.
Trở về chưa kịp tới nhà,
Thấy hai con cọp nhảy ra đón đàng.
Thảy đều bắt mẹ con nàng,
Đem vào lại bỏ trong hang Thương Tòng.
Bốn bề đá lấp bịt bùng,
Mẹ con than khóc không trông ra rồi.
Trời kia quả báo mấy hồi,
Tiếc công son điểm phấn dồi bấy lâu.
Làm người cho biết nghĩa sâu,
Gặp cơn hoạn nạn cùng nhau cho tròn.
Chớ đừng theo thói mẹ con,
Thác đà mất kiếp tiếng còn bia danh.
Trạng nguyên về tới Đông Thành,
Lục ông trước đã xây dinh ở làng.
Bày ra sáu lễ sẵn sàng, (329)
Các quan đi họ cưới nàng Nguyệt Nga.
Sui gia đã xứng sui gia,
Rày mừng hai họ một nhà thành thân.
Trăm năm biết mấy tinh thần,
Sinh con sau nối gót lân đời đời. (330)


-- Hết --

_________________

"One leaf is believe
Two leaf is hope
Three leaf is love
And four leaf is happiness
Then may a three leafed clover find it’s happiness in love?
Clover bốn lá
Tôi chỉ muốn có hạnh phúc
Hạnh phúc
không chia sẻ được”
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://asami-ntnt.blogspot.com/
Asami
»ღ« Ngọc Bút Ngự Sử »ღ«


Nữ Tổng số bài gửi : 1367
Age : 22
Đến từ : Kình Thiên Hội
Job/hobbies : Ngự Sử
Registration date : 07/03/2009

Lengend
Legend:
500/900  (500/900)

Bài gửiTiêu đề: Re: [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]   Sun Jun 14, 2009 10:42 am

Một số chú thích trong tác phẩm Lục Vân Tiên
(1) Bài văn tự răn nổi tiếng bàn về đạo hiếu và đạo nhân, do Trương Tái làm.
(2) Hai tám: 16 tuổi
(3) Sân Trình: Chỉ Trình Chiêu và Trình Di, hai nhà Tống nho nổi tiếng.
(4) Văn đã như phượng trỗi dậy, rồng bay cao, tức văn đã thành tài.
(5) ý nói quyết thi đỗ.
(6) Danh tôi: danh của kẻ tôi tớ (Vân Tiên nói nhún)
(7) Báo đáp công ơn cha mẹ và thầy
(8) Máy trời: thiên cơ (cơ trời huyền bí)
(9) Phù thần: bùa hộ mệnh
(10) Hiểm nghèo
(11) Song đường: xuân đường, huyên đường (cha mẹ). Tuổi hạc: tuổi thọ.
(12) âm hao: tin tức
(13) Nhân cơ trời đang chứa nhiều bí ẩn (do xem trăng sao mà biết)
(14) Sao Thiên Khôi (sao văn học, thi cử) và sao Tử vi (thân mệnh) đều sáng rỡ
(15) Nhưng gặp năm xung nên chưa thuận (mão xung dậu)
(16) Tiền trình: con đường phía trước
(17) Mỗi người một phương trời
(18) Tử Lộ, Nhan Uyên: hai học trò giỏi của Khổng Tử, thuở nhỏ rất nghèo, Tử Lộ chỉ có một dây đai, Nhan Uyên chỉ có một bầu nước.
(19) Tôi ngay: bề tôi trung thành của vua.
(20) Đảng sơn đài: Đảng cướp núi.
(21) Dung nhan lạnh lùng (tiếng cổ): sắc đẹp tuyệt vời.
(22) Thục nữ: con gái đức hạnh. Thất phu: đàn ông thô bỉ.
(23) âu (ưu): lo
(24) Qua: ta; bậu: ngươi (bạn, anh bạn).
(25) Vẽ hổ không thành: mưu đồ thất bại.
(26) khi không: không dưng.
(27) Triệu Tử phá vòng Đương Dương: Lưu Bị bị Tào Tháo đánh bại ở Tân Dã phải bỏ chạy. Quân Tháo đuổi theo đến Đương Dương, thì Lưu Bị phải bỏ cả vợ con, cướp đường rút về phía Nam, tướng tá lạc nhau. Triệu Tử Long một mình đánh phá vòng vây trùng điệp của quân Tào, vượt cầu Trường Bản, tìm gặp Lưu Bị.
(28) Chưa hãn: chưa rõ, chưa biết chắc chắn.
(29) Báo trả ơn đức, đền đáp công lao.
(30) Luận ngữ: "kiến nghĩa bất vi vô dũng dã", nghĩa là : Thấy việc nghĩa không làm là người vô dũng.
(31) Thìn: răn, giữ.
(32) Của vất vơ: của quấy quá, không mấy giá trị.
(33) Lây dây: lỡ dở không xuôi bề nào.
(34) Ngạt ngào: mùi thơm nức, đây ý nói thơ hay lắm.
(35) Chẳng phen: chẳng bằng, chẳng sánh kịp. Tạ nữ: tức Tạ Đạo Uẩn đời Tấn nổi tiếng thông minh, giỏi thơ văn. Từ phi: tên Huệ, người đời Đường, tám tuổi đã giỏi việc văn thơ.
(36) Dũ xuất dũ kì: càng đọc càng thấy hay thấy lạ
(37) Mai điểu: tranh mai và chim đẹp hài hoà. Đây nói thơ xướng hoạ, tinh ý rất xứng hợpnhau.
(38) Xúc cảnh hứng hoài: xúc cảm trước cảnh đẹp mà động lòng thơ.
(39) Vẹn chữ tùng: trọn đạo làm vợ (theo chồng).
(40) Ngưu lang: nhân vật thần thoại, chồng của Chức Nữ.
(41) Dấu thỏ đường dê: nơi xa xôi hẻo lánh, không vết chân người, chỉ có dấu chân thỏ, chân dê rừng.
(42) Tuỳ nhi: trẻ theo hầu.
(43) Tiền trình: việc đi đường vừa rồi.
(44) Đòi cơn: nhiều cơn.
(45) No nao: nỏ biết lúc nào, chừng nào.
(46) Sao sao: dù thế nào.
(47) Hoa đình: nhà nhỏ ngồi thưởng hoa.
(48) Thâm: sâu
(49) Sơn xuyên: núi sông, nói sự xa xôi cách trở.

_________________

"One leaf is believe
Two leaf is hope
Three leaf is love
And four leaf is happiness
Then may a three leafed clover find it’s happiness in love?
Clover bốn lá
Tôi chỉ muốn có hạnh phúc
Hạnh phúc
không chia sẻ được”
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://asami-ntnt.blogspot.com/
Asami
»ღ« Ngọc Bút Ngự Sử »ღ«


Nữ Tổng số bài gửi : 1367
Age : 22
Đến từ : Kình Thiên Hội
Job/hobbies : Ngự Sử
Registration date : 07/03/2009

Lengend
Legend:
500/900  (500/900)

Bài gửiTiêu đề: Re: [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]   Sun Jun 14, 2009 10:45 am

(50) Thứ đầu: lớp đầu, phần đầu.
(51) Bình thuỷ tương phùng: bèo nước gặp nhau, tình cờ mà gặp.
(52) Bằng hữu chi giao : tình bạn bè.
(53) Thanh khâm: áo cổ xanh là áo của học trò thời xưa thường bận. Nợ thanh khâm, cũng như nói nợ bút nghiên.
(54) Hai bảy: mười bốn
(55) Hồ Việt nhứt gia: người Hồ (phía Bắc) kẻ Việt (phía Nam) chung một nhà.
(56) Dồi: trau dồi son phấn.
(57) Duyên cầm sắt: duyên vợ chồng hoà thuận êm ấm (như tiếng đàn sắt, đàn cầm hoà nhau).
(58) Kẻ ở nước Tấn (phía Đông) người ở nước Tần (phía Tây), chỉ sự xa cách mỗi người một ngả.
(59) Tức giai ngẫu (một đôi tốt đẹp), chỉ vợ chồng tốt đôi.
(60) Dâu nam giản: Người con dâu trung hậu, đảm đang, lấy ý từ kinh Thi: "Hái rau tần từ bờ suối phía Nam", là thơ khen người vợ trẻ đảm đang lo việc nội trợ. Trai đồng sàng: chỉ chàng rể tốt.
(61) Ngãi tế: con rể.
(62) Đại khoa: là thi đỗ. Tiểu khoa: là cưới vợ.
(63) Tót đời: hơn đời, hơn hết mọi người.
(64) Trước: là trúc. Đây ý nói hai người kết bạn thân với nhau là rất tốt, như trúc, mai.
(65) Bình thuỷ hữu duyên: bèo nước có duyên.
(66) Giao kề: sánh ngồi gần kề bên nhau.
(67) Kì: chỉ người tài giỏi khác thường.
(68) Bạch Hàm Như Hoành: hai nhân vật nổi tiếng thơ văn, tài hoa trong truyện Bình Sơn Lãnh Yến.
(69) Lương đống: rường cột, chỉ người có tài đức lớn giúp nổi việc nước.
(70) Én hộc: ý nói chim én không sánh được với chim hộc (Trực nói nhún)
(71) Thượng trình: lên đường.
(72) Tiểu nhi: con trẻ, tiếng cha mẹ gọi con. Lên đình: Sân có trồng lê.
(73) Tống tình: tiễn nhau trong tình cảm.
(74) Liễm dung: Nghiêm chỉnh dáng điệu để tỏ ý tôn trọng.
(75) Phó công: đi thi lập công danh.
(76) Nôn nao không yên, như mưa, như gió luôn xao động.
(77) Chim phượng thiêng đậu đúng cây ngô đồng, ví người hiền tài được ở vị trí xứng đáng.
(78) Cung quế xuyên dương: ví việc thi đỗ, công thành danh đạt.
(79) Tào Khương: Tấm Cám, vợ chồng lấy nhau từ lúc còn nghèo hèn.
(80) Nói lòng dạ đổi thay, tham mới bỏ cũ. Đó và đăng là hai dụng cụ đan bằng tre để bắtcá.
(81) May thì gặp duyên, rủi thì gặp nợ, lẽ đó bày ra rành rành.
(82) Để được làm quan to, Ngô Khởi đã giết vợ. Chu Mãi Thần vì nghèo nên vợ bỏ đi lấy chồng khác. Sau Mãi Thần làm đến chức thái thú.
(83) Vầy đoàn: họp lại thành đoàn.
(84) Sông đẹp núi lạ, nói cảnh đẹp.
(85) Gặp thời, thoả lòng đua sức đua tài."
(86) Tình hoài: tâm tình cảm xúc ở trong lòng.
(87) Cửa Võ: Mỏm núi đá hình cái cửa có sóng dữ, tục truyền hàng năm vào tiết tháng ba, cá chép khắp nơi kéo về vượt Vũ môn, con nào nhảy qua được thì hoá rồng. Nhân đó, cửa Vũ chỉ trường thi, và thi đỗ gọi vượt qua Vũ môn.
(88) Trực nói phen này mặc sức vẫy vùng.
(89) Vân Tiên e ngại lần này không theo kịp chúng bạn.
(90) Kinh địa: đất kinh đô.
(91) Tác chừng: tuổi tác chừng vào khoảng.
(92) Cho bề: cho nhiều, như nói bề bộn, bề bề.
(93) Ướp ngâu: ướp hoa ngâu vàng rất thơm.
(94) Trà ve: chè đựng trong chai, lọ nhỏ. Điểm tuyết: Lấm tấm màu tuyết, nói trà ngon. Cúc hương: hương hoa cúc.
(95) Bĩ bàng: đầy đủ, tươm tất.
(96) Viết tùng cổ thi: viết dựa dẫm theo thơ cũ có sẵn.
(97) Bất tài đồ thơ: không có tài năng về sách vở, tức là nói người học tồi, sức học kém cỏi.
(98) Tôn Tẩn là bạn học binh pháp với Bàng Quyên, sau bị Quyên hại, chặt hai chân, để gìm tài. Thầy học Quỷ Cốc Tử đã bảo trước cho Tôn Tẩn nhưng ông không đề phòng (không lừa, không lựa chọn).
(99) Tuyền: trọn đủ cả. ý cả câu: ông có thông thuộc cả kinh sử hay không?
(100) Hay ghét hay thương: biết ghét và biết thương.
(101) Tầm phào: vu vơ, hão huyền.
(102) Kiệt Trụ: Vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương, cả hai đều bạo ngược, vô đạo, hoang dâm.
103 U Lệ: U vương và Lệ vương thời nhà Chu làm nhiều việc bạo ngược, vô đạo. Đa đoan: lắm chuyện rắc rối.
104 Ngũ bá: cuối đời nhà Chu, năm vua chư hầu kế tiếp nhau nổi lên làm chủ một thời, nhân dân phải lầm than điêu đứng. Phân vân: lộn xộn bối rối như cảnh loạn.
105 Đời thúc quý: đời suy loạn sắp bị diệt vong. Phân băng: chia lìa.
Sớm đầu tối đánh: sớm đầu hàng, tối lại đánh.
106 Thánh nhân: chỉ Khổng Tử, không được dùng, từng đi khắp các nước Tống, Vệ, Trần, Khuông tìm cách hành đạo của mình mà không được. Về sau ông trở về nước Lỗ mở trường dạy học.
107 Nhan Tử: tức Nhan Uyên, học trò giỏi của Khổng Tử.
108 Gia Cát: tức Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh, giúp Lưu Bị đánh bại Tào Tháo, dựng nước ở đất Thục, hết sức lo việc trung hưng nhà Hán, nhưng không thành.
109 Đồng Tử: tức Đổng Trọng Thư, danh nho đời Hán.
110 Nguyên Lượng: tức Đào Tiềm đời Tấn, tính tình cao thượng, không cầu danh lợi, giỏi thơ văn.
111 Hàn Dũ: đời Đường, tinh thông lục kinh, bách gia chư tử, đỗ tiến sĩ làm quan ở triều. Vua mê tín đạo Phật, rước xương Phật vào cung, ông dâng sớ cực lực ngăn cản. Vì thế ông bị đổi ra làm quan ở đất Triều Châu.
112 Liêm, Lạc: chỉ Chu Đôn Di ở Liêm Khê và hai anh em họ Trình ở Lạc Dương. Cả ba đều là những nhà triết học đời Tống, có ra làm quan nhưng không được đắc dụng, lại trở về dạy học.
113 Nói nhân tài ở chỗ nghèo hèn.
114 Kinh luân: tài sắp đặt tổ chức việc nước.
115 Nghiêu Thuấn: hai vua truyền thuyết được nhà nho coi là mẫu mực, đã theo được đạo trời mà trị dân.
116 Sào Phủ Hứa Do: Hai ẩn sĩ nổi tiếng đời Nghiêu.
117 Bá Di và Thúc Tề, hai người lấy việc nước mất làm xấu hổ, bỏ lên núi thú dương hái rau vi mà ăn, không chịu ăn thóc nhà Chu. Chăng khứng: không chịu.
Ai hầu chi ai: không ai chịu hầu hạ, phục dịch cho ai cả.
118 Hai đại công thần nhà Thương.
119 Thái Công: Khương Tử Nha, già hơn 70 tuổi vẫn ngồi câu cá ở bờ sông Vị. Chu Văn Vương nhân đi săn gặp ông, bèn đón ông về kinh, tôn làm thầy. Ông giúp Văn Vương và con là Vũ vương dựng nghiệp nhà Chu.
120 Nghiêm Lăng: ẩn sĩ đời vua Quang Vũ.
121 Cày mây câu nguyệt: cày trong mây, câu dưới trăng là nói cảnh thanh cao ẩn dật. áocầu: áo cừu, áo may bằng da thú. Nghiêm Lăng ngồi lâu năm áo cừu đã rách nát.
122 Trần Đoàn: học rộng, tinh thông kinh Dịch, ẩn ở núi Vũ Dương, tu luyện đạo tiên.
123 Túi thơ ngâm phong vịnh nguyệt, coi công danh phú quý như giấc chiêm bao.
124 Bảy người đời Tấn, tính tình phóng đạt, thường họp nhau vui chơi nơi rừng Trúc (TrúcLâm thất hiền).
125 Rừng nhu biển thánh: đạo nho dày như rừng, rộng như biển.
126 Khai phong: mở phong thư.
Sự cơ: sự tình, nông nỗi.
127 Qui lai: trở về, quay về (vì mẹ chết)
128 Sách Văn Công: Sách qui định nghi lễ về tang ma cưới xin.
129 Chín chữ cù lao: công lao khó nhọc của cha mẹ nuôi dạy con.
130 Nhũ bộ: bú sữa, mớm cơm.
131 Thiên hương: hương trời, đây dùng chỉ tài năng lỗi lạc của Vân Tiên.
132 Bạn tác: bạn cùng tuổi, cùng lứa.
133 Lòng còn lo ngại về đường xa nỗi gần chưa biết rồi sẽ ra sao.
134 Tị trần: tránh bụi, xa lánh cuộc đời loạn lạc mà đi ở ẩn.
135 Quày quã: vội quay phắt ngay đi.
136 Dưỡng dục: nuôi nấng, dạy dỗ. Sinh thành: sinh ra và gây dựng nên người.
137 Vân Tiên thấy mắt bỗng tối mù.
138 Hỏi phăn: hỏi lần cho ra manh mối.
139 Đầu thang: bốc thuốc.
140 Y học, Thọ thế, Đông y các bộ sách y học cổ truyền.
141 Ngân hải tinh vi: sách thuốc về cách chữa mắt.
142 Cng mục: sách nói về tính chất các vị thuốc. Thanh nang: chỉ sách chép các phươngthuốc chưa hề truyền cho ai.
143 Sách tập hợp các phương thuốc hay đã được dùng.
144 Ngự Toản; Hồi xuân: các sách thuốc cổ.
145 Xuân thần: Vị chính vị phụ trong một thang thuốc đông y.
146 Nỏ nan: nói thuốc sao khô cẩn thận.
147 Lư san: bài phú dạy phép xem mạch.

_________________

"One leaf is believe
Two leaf is hope
Three leaf is love
And four leaf is happiness
Then may a three leafed clover find it’s happiness in love?
Clover bốn lá
Tôi chỉ muốn có hạnh phúc
Hạnh phúc
không chia sẻ được”
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://asami-ntnt.blogspot.com/
Asami
»ღ« Ngọc Bút Ngự Sử »ღ«


Nữ Tổng số bài gửi : 1367
Age : 22
Đến từ : Kình Thiên Hội
Job/hobbies : Ngự Sử
Registration date : 07/03/2009

Lengend
Legend:
500/900  (500/900)

Bài gửiTiêu đề: Re: [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]   Sun Jun 14, 2009 10:49 am

245 Chăn dân: trị dân, cho dân yên ổn làm ăn.
246 Nhẫn nay: đến nay, tới bây giờ.
247 Tơ điều: tơ đỏ xe duyên.
248 Nguyệt Nga chưa nên nghĩa vợ chồng với Vân Tiên, cũng như Chức nữ, Ngưu lang chưa kịp gặp nhau trên sông Ngân mà nhịp cầu Ô đã rơi mất, không bao giờ gặp lại được nữa.
249 Phù du: con vờ.
250 Công phu lỡ làng: bỏ sức ra làm dang dở.
251 Đồng tịch đồng sàng: cùng giường cùng chiếu.
252 Vùa hương bát nước: bát hương và chén nước thờ.
253 Vừa đưa chồng về lại bên kia sông Ngân, thì đã lại đến Cầu Lam rước người tình khác. ý nói mất chồng này tìm chồng khác.
254 Mai chước: người làm mối.
255 Ô Qua: tên ngầm chỉ giặc Qua Oa ở bể vào cướp phá miền Châu Đốc, Hà Tiên.
256 Chiêu Quân thời Hán Nguyên đế bị tuyển làm cung nữ. Nàng không chịu đút lót cho Mao Diên Thọ nên bị y vẽ xấu đi, vua không vời đến. Về sau bị chọn tiến vua Hung Nô.
257 Hạnh Ngươn: Nhân vật truyện Nhị Độ Mai.
258 Sao sao: dù thế nào đi nữa.
259 Thân danh: thân mình và danh dự.
260 E rằng người che chở và nuôi nấng mình có mưu toan gì?
261 Dần lân: lân la dần dần.
262 Chánh tiết: trinh tiết, ngay thẳng.
263 Ba xuân: ba tháng xuân, tuổi xuân.
264 Bâu: cổ áo.
265 Chẳng phen: chẳng bắt chước. Thói nước Trịnh: thói tà dâm như trai gái nước Trịnh trèo tường đón ngõ rủ rê nhau ra nơi đồng nội để thoả lòng dục.
266 Công chúa Hồ Dương chồng chết, phải lòng Tống Hoằng.
267 Hạ Cơ: Con gái Trịnh Mục Công, xinh đẹp, lẳng lơ, có chồng mà vẫn một lúc ngoại tình với nhiều người.
268 Lữ Hậu: vợ Hán Cao Tổ mất, Lữ Hậu tư thông với Dị Ki (Thẩm Tự Cơ) cho Tự Cơ làm tả thừa tướng để tiện bề chung chạ.
269 Võ Hậu thông tình với hai anh em Trương Xương Tông và Trương Dịch Chi. (Tức Di Tôn, Tam Tư).
270 Chính chuyên: một bề tiết hạnh. Trắc nết: mất nết.
271 Nàng Như ý sau khi cứu Văn Quân thoát nạn, đem lòng yêu chàng, vẽ hình chàng. Sau hai người lấy nhau (tuồng cổ).
272 Chấp nhứt: câu nệ về một lẽ.
273 Hễ là người trải đời thì phải biết cả chấp kinh (tuân thủ nguyên tắc) lẫn tòng quyền (vượt ngoài nguyên tắc).
274 Vầy: sum họp.
275 Tua: nên phải.
276 Gối sách: gối gấp nhiều lớp, có thể chồng lên nhau mà ngồi dựa.
Bát bửu: tám vật quý là gươm, giáo, búa... bằng đồng hay bạc để bày cho thêm sang trọng.
277 Giầy xéo lên sành, đạp lên sỏi.
278 Khá tua: phải nên.
279 Nguyệt Nga đã trôi giạt tới chốn cửa ải và núi non, xa xôi cách trở.

_________________

"One leaf is believe
Two leaf is hope
Three leaf is love
And four leaf is happiness
Then may a three leafed clover find it’s happiness in love?
Clover bốn lá
Tôi chỉ muốn có hạnh phúc
Hạnh phúc
không chia sẻ được”
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://asami-ntnt.blogspot.com/
Asami
»ღ« Ngọc Bút Ngự Sử »ღ«


Nữ Tổng số bài gửi : 1367
Age : 22
Đến từ : Kình Thiên Hội
Job/hobbies : Ngự Sử
Registration date : 07/03/2009

Lengend
Legend:
500/900  (500/900)

Bài gửiTiêu đề: Re: [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]   Sun Jun 14, 2009 10:50 am


280 Ra đời: ra hoạt động, giúp đời.
281 Quy y: đi tu.
282 Hẩm hút tương rau: cảnh nghèo.
283 Minh sinh: mảnh lụa, vải hay giấy dài ghi tên họ, chức tước người chết để cúng.
284 Người ta có tổ tiên cha mẹ như nước có nguồn cây có gốc.
285 Chín trăng: chín tháng (mẹ mang thai con chín tháng).
286 Nằm giá: Nằm trên băng giá. Sổ Liêu xưa nằm trên băng để băng tan, bắt được cá chép về cho mẹ ăn chữa bệnh.
Khóc măng: Mạnh Tông thương mẹ vốn thích ăn măng. Mùa đông ông vào rừng kiếm măng không được, ôm trúc mà khóc, tự nhiên măng mọc.
287 Nhị thập tứ hiếu: 24 gương hiếu xưa.
288 Ra bề: ra bề thế.
289 Biếm quyền: giáng chức quan.
290 Hồ phương Bắc, Việt phương Nam.
291 Chia Bâu: chia li.
292 Kiều công mong cho Nguyệt Nga sẽ thành gia thất và sinh được con hay.
293 Kinh sư: kinh đô.
294 Khôi khoa: đỗ đầu (trạng nguyên).
295 Chỉ: lệnh vua. Quốc trạng: trạng nguyên của cả nước. Dẹp loàn: dẹp loạn.
296 Đề binh: đem binh đi đánh giặc.
297 Binh di: dẹp giặc.
298 Tương hội: cùng hội họp với nhau.
299 Một tiếng truyền lệnh, oai hùng như sấm làm phấn khởi mọi người.
300 Tiên phong: quân xông trận mặt trước.
Hậu tập: quân đánh bọc mặt sau.
301 Bình tặc: dẹp yên giặc.
302 Binh đáo quan thành: quân đến trước cửa thành.
303 Ra quân, chống trả.
304 Dường lôi: như sấm sét đánh.
305 Siêu: binh khí có lưỡi dài. Ngựa ô: ngựa lông đen.
306 Không quản hiểm nghèo.
307 Tam canh: canh ba
308 Nguyệt Nga không mong gặp được Vân Tiên như Chức nữ gặp Ngưu lang.
309 Thề bể hẹn non, bền chặt.
310 Bảng lảng bơ lơ: kinh ngạc ngẩn người.
311 Khúc nôi: nỗi niềm, sự tình.
312 Tẩu tẩu: chị dâu.
313 Triều ca: buổi thiết triều.
Đề huề: dắt tay nhau cùng đi.
314 Qua mâu: binh khí thời xưa.
315 Chậu úp: nói nơi tối tăm, ánh sáng không lọt tới, trong ngoài không thông nhau, ví nỗi oan không cách giải tỏ.
316 Ghe phen: nhiều phen.
317 Tướng ngỏ tôi hiền: khanh tướng và kẻ bề tôi hiền.
318 Chín trùng: vua.
319 Đổng công: tức Đổng Trác.
320 ý nói thản nhiên như không.
321 Bài vị: miếng gỗ hay mảnh giấy cứng, mặt có ghi tên người chết để thờ.
322 Các thứ lớp từ trước đến nay.
323 Chỉ Vân Tiên.
324 Tuần dư: hơn mười ngày.
325 Phòng: hóng chờ.
326 Biêu: nêu lên cho mọi người biết.
327 ý câu: Vân tiên bị xem là kẻ oán thù với nhà Thể Loan, thì Vân Tiên đã bị nhà Thể Loan hãm hại, tức Vân Tiên trả xong nợ rồi.
328 Ca ca: anh. Chịu đi: ưng thuận đi.
329 Sáu lễ: sáu lễ trong việc cưới hỏi thời xưa.
330 Gót lân: chỉ con cháu có tài có đức.

_________________

"One leaf is believe
Two leaf is hope
Three leaf is love
And four leaf is happiness
Then may a three leafed clover find it’s happiness in love?
Clover bốn lá
Tôi chỉ muốn có hạnh phúc
Hạnh phúc
không chia sẻ được”
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://asami-ntnt.blogspot.com/
Asami
»ღ« Ngọc Bút Ngự Sử »ღ«


Nữ Tổng số bài gửi : 1367
Age : 22
Đến từ : Kình Thiên Hội
Job/hobbies : Ngự Sử
Registration date : 07/03/2009

Lengend
Legend:
500/900  (500/900)

Bài gửiTiêu đề: Re: [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]   Sun Jun 14, 2009 10:52 am

Đôi nét về tác giả NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) là một nhà nho yêu nước chân chính tiêu biểu của Nam Bộ trong thế kỷ XIX.

Cùng chung số phận với nhiều văn thi hào và sĩ phu kiệt hiệt khác như Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Trương Định..., Nguyến Đình Chiểu sống vào một giai đoạn vô cùng đen tối của lịch sử dân tộc. Triều đình nhà Nguyễn (với những ông vua thủ cựu như Tự Đức...) đang trên đà suy sụp, đã mất hẳn khả năng lãnh đạo nhân dân kể cả trong công cuộc xây dựng cũng như công cuộc bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Xã hội Việt Nam thời đó rơi vào tình trạng ngưng trệ và lạc hậu thảm hại. Rốt cuộc, trước sự xâm lược của thực dân Pháp, cái triều đình ươn hèn, bất lực đó đã không thể đối phó, không thể lập được "thế cân bằng" với ngoại bang, và đã để đất nước ta rơi trọn vào tay chúng.

Trước vận mệnh bi đát của đất nước, trước cảnh "sinh dân nghiêng nghèo" ấy, Nguyễn Đình Chiểu cũng như bao người hiền tài khác, đã đau lòng nhức óc biết là nhường nào!

Trước kia Nguyễn Trãi đã từng nhận định rằng trên đất nước ta, các thời đại "tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt không bao giờ thiếu" (Bình Ngô đại cáo).

Nguyễn Đình Chiểu là một người con hào kiệt của vùng đồng bằng Nam Bộ, là một nhân cách lớn mà sự nghiệp và tên tuổi của ông sẽ mãi mãi sáng ngời. Là nhà thơ suốt đời bị mù loà, nhưng không những ông là tác giả của tác phẩm bất hủ Lục Vân Tiên, của "Ngư tiều y thuật vấn đáp", "Dương Từ Hà Mậu"..., ông còn là tác giả của những bài thơ, những bài văn tế nổi tiếng, trong đó ông đã tưới máu và nước mắt của mình hoà chung với những bi kịch mà nhân dân anh hùng bất khuất và đau thương của ông phải chịu đựng khi chống trả bọn xâm lược. Có những câu thơ của ông đã khắc sâu vào lòng người:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Lịch sử văn học đã xác nhận Nguyễn Đình Chiểu là nhà văn, nhà thơ tiên khu vĩ đại, người mở đầu cho dòng văn học yêu nước và cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Lục Vân Tiên là tác phẩm "tiểu thuyết bằng thơ nôm" sau chót của văn học Việt Nam, được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác ngay trong thời kì cận đại. Đó là điểm son cuối cùng của loại hình tác "truyện nôm", "diễn ca nôm" như Chinh phụ ngâm, cung oán ngâm khúc, Hoa Tiên, Phan Trần, Nhị Độ Mai, Bần nữ thán, Truyện Kiều, truyện nôm khuyết danh...

Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác Lục Vân Tiên với động cơ gì?

Như trên đã nói, trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, xã hội Việt Nam, trong cơ chế của một chế độ phong kiến phương Đông ngưng trệ, lạc hậu, đương trượt dài trên con đường suy thoái. Khắp đất nước phơi bày tình cảnh nghèo đói xác xơ, đạo đức con người cũng như phong hoá dân tộc ngày một sa sút.

_________________

"One leaf is believe
Two leaf is hope
Three leaf is love
And four leaf is happiness
Then may a three leafed clover find it’s happiness in love?
Clover bốn lá
Tôi chỉ muốn có hạnh phúc
Hạnh phúc
không chia sẻ được”
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://asami-ntnt.blogspot.com/
Asami
»ღ« Ngọc Bút Ngự Sử »ღ«


Nữ Tổng số bài gửi : 1367
Age : 22
Đến từ : Kình Thiên Hội
Job/hobbies : Ngự Sử
Registration date : 07/03/2009

Lengend
Legend:
500/900  (500/900)

Bài gửiTiêu đề: Re: [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]   Sun Jun 14, 2009 10:52 am

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho chân chính, cho nên trong lòng ông lúc nào cũng đau đáu những ý tưởng về sự "kinh bang tế thế". Do hạn chế về lịch sử, ông chưa nhận thức được rằng những ý tưởng của những sĩ phu phong kiến như ông muốn khôi phục lại một xã hội lý tưởng thời Nghiêu - Thuấn, thực ra đã lỗi thời rồi...

Tuy nhiên với tâm huyết sôi sục của một con người nhập thế tích cực, nhất thiết ông phải hành động để phụng sự đất nước và dân tộc ông. Chính vì thiết tha muốn "đem lời nói đốt cháy lòng thiên hạ" (thơ Puskin) mà ông viết Lục Vân Tiên. Với ông, trong lúc đời đang suy, việc viết một tác phẩm đứng đắn và mang đầy nhiệt huyết như Lục Vân Tiên chính là một diệu kế, khả dĩ cứu vãn được sự suy thoái của đất nước và chấn hưng được phong hoá của dân tộc.

Lục Vân Tiên là bản trường ca đề cập về luân lí đạo đức của con người, nói cách khác: về "Đạo lý Việt Nam".

Đạo lý ấy rất giản dị: Trai thì trung với nước, hiếu với cha mẹ, có chí tiến thủ, giúp nước cứu dân; gái thì tiết hạnh và cao quý; đồng bào ăn ở với nhau thì có thuỷ có chung, luôn luôn sẵn sàng cứu giúp nhau trong những cơn hoạn nạn, không vì danh lợi mà chà đạp lên tình người, không vì những đố kị và oán hận riêng tây mà hại người, không nên "hành" những nghề lừa bịp tức cười như lang băm, thầy bói, thầy pháp nhảm nhí...

Cái đạo lý rất mực dân dã ấy thực ra lại là rường cột của nền đạo đức của cả một dân tộc, là cội nguồn của hạnh phúc con người. Cái kết thúc "có hậu" của Lục Vân Tiên phản ánh quan niệm của nhân dân đối với những ai biết giữ gìn đạo đức (như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Hớn Minh...). Ngược lại, những nhân vật như Võ Công, mẹ con Thể Loan, Trịnh Hâm, đã phải trả giá đắt chỉ vì họ đã vứt bỏ cái đạo làm người đó.

Là tác phẩm viết cho quảng đại quần chúng, chuyên luận bàn về luân lí đạo đức, Lục Vân Tiên được sáng tác, cốt truyện mạch lạc và hấp dẫn, đậm đà màu sắc văn hoá Nam Bộ.

Đọc Lục Vân Tiên chúng ta cảm nhận được cái tinh thần đạo đức cao quý và tình người chan chứa hiện ra phơi phới trong mỗi trang thơ.

Các nhân vật chính như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Tiểu Đồng, và các nhân vật phụ như Thể Loan, Kiều Công, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm... được tác giả miêu tả nkhá sinh động, có cá tính.

Đặc biệt nữ nhân vật Kiều Nguyệt Nga - người con gái Việt Nam đức hạnh nết na - rõ ràng có một cuộc sống nội tâm khá phong phú, sâu sắc, một sự thông minh dễ thương và một đức kiên trinh đáng khâm phục, khiến chúng ta không thể không xúc động và yêu quý nàng.

Tất cả những điều đó giải thích vì sao Lục Vân Tiên đã được đông đảo quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân Nam Bộ, mến mộ suốt hơn một thế kỷ qua; vì sao Lục Vân Tiên đã đi vào ca dao:

Vân Tiên Vân Tiển Vân Tiền
Cho tôi một tiền, tôi kể Vân Tiên...

_________________

"One leaf is believe
Two leaf is hope
Three leaf is love
And four leaf is happiness
Then may a three leafed clover find it’s happiness in love?
Clover bốn lá
Tôi chỉ muốn có hạnh phúc
Hạnh phúc
không chia sẻ được”
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://asami-ntnt.blogspot.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: [b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]   Today at 5:16 am

Về Đầu Trang Go down
 
[b]Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình Chiểu[/b]
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2
 Similar topics
-
» Đại chiến trình duyệt web năm 2011, ai là kẻ chiến thắng?
» UEFA Champion League và Europa League 2011 -2012 trên VTV3
» ti vi sam sung cs21a530fl bị co chiều ngang và hẹp theo chiều dọc
» [Giúp đỡ] Mua điều hòa 2 chiều, chọn loại nào???
» Cuộc chiến của các thiên hà vừa được NASA phát hiện

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
(¯`·.º-:¦:KìnhThiênHội:¦:-º.·´¯) :: Hậu Hoa Viên :: Kình Thiên Thi Phú :: Thơ sưu tầm-
Chuyển đến